PHƯƠNG THỨC TỪ CHỐI TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT (Phần 3)

2. Phương thức biểu hiện từ chối trực tiếp chứa thành phần cốt lõi và thành phần mở rộng

Trong tiếng Nhật, phần lớn lời từ chối trực tiếp đều bao gồm thành phần cốt lõi và ít nhất một thành phần mở rộng. Thành phần mở rộng có thể là một cấu trúc tường thuật, một câu hỏi, một câu cảm thán, cảm ơn, xin lỗi...

2.1. Phương thức biểu hiện TCTT chứa thành phần mở rộng nêu lý do, giải thích

Viện lý do để từ chối là phương thức từ chối phổ biến ở nhiều ngôn ngữ. Đây được coi là phương thức “tạo độ an toàn cao cho phát ngôn từ chối”, do được người nghe “dễ đồng ý, thông cảm, chấp nhận lời giải thích phù hợp với hoàn cảnh thực của người nói” (Nguyễn Thị Hương Giang, Luân văn thạc sĩ “Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”, tr.48). Trong một khảo sát của Nguyễn Phương Chi (2004) về sự phân bố tỉ lệ sử dụng của các chiến lược từ chối trong tiếng Anh và tiếng Việt (qua một số tác phẩm văn học), chiến lược “viện cớ” để từ chối chiếm tỉ lệ cao nhất trong tiếng Anh là 16,2% [1], trong tiếng Việt là 17,2%. Tuy nhiên, tác giả này còn đề cập đến chiến lược “nêu tính bất cập của điều được yêu cầu” (10,1%) và “nêu tính vô ích của điều được yêu cầu” (14,7%), được xem là các chiến lược tương đồng với chiến lược “viện cớ”, vì vậy xét trên tổng tỉ lệ sử dụng, có thể nói “viện cớ” chiếm tới hơn 40% các chiến lược từ chối trong tiếng Anh. Còn theo kết quả khảo sát của chúng tôi về HVTC lời cầu khiến của sinh viên Nhật Bản và sinh viên Việt Nam, biểu thức nêu “Lý do”, biện minh để từ chối được sử dụng nhiều nhất trong tất cả các tình huống điều tra. Trong 4 tình huống mà chúng tôi khảo sát, biểu thức “Lý do” chiếm 27%-32% ở tình huống thứ nhất (từ chối lời nhờ dạy phần mềm máy tính), 24%-25% ở tình huống thứ hai (từ chối lời hỏi vay tiền), 32%-32% ở tình huống thứ ba (từ chối lời sếp nhờ đi gửi tài liệu), 33,3%-33,9% ở tình huống thứ tư (từ chối lời đề nghị đến trang trí hội trường vào ngày thứ 7 và chủ nhật của thày giáo) trong lời từ chối của sinh viên Nhật Bản. Kết quả điều tra đối với sinh viên Việt Nam cho thấy tỉ lệ nêu “Lý do” để từ chối chiếm từ 66% - 100% ở cả bốn tình huống trên.

MỘT SỐ BIỂU THỨC TỪ CHỐI GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG NHẬT (Phần 3)

4. Biểu thức ngăn cản, tạo sự phủ định, bác bỏ

Sử dụng cấu trúc trần thuật tạo lời bác bỏ, lời phủ định hoặc khẳng định đối lập với nội dung cầu khiến, mang hàm ý tác động nhằm dừng ý định cầu khiến của đối tượng giao tiếp để thực hiện hành vi từ chối (HVTC) là cách thức phổ biến ở mọi ngôn ngữ. Trong tiếng Nhật, lời từ chối này có tỉ lệ sử dụng không cao do tính “đe doạ thể diện” cao, khá gần với phương thức từ chối trực tiếp.

Trong ví dụ sau (4.1), Shimura - người khách trọ nhờ Komako gọi một kỹ nữ đến phục vụ anh ta:“Gọi cho tôi một geisha!”, đáp lại lời yêu cầu của Shimura, Komako nêu lên hiện trạng ngược với nội dung cầu khiến, rằng “Ở đây không có loại phụ nữ ấy” để người khách phải tự rút lui lời đề nghị không thích hợp.

MỘT SỐ BIỂU THỨC TỪ CHỐI GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG NHẬT (Phần 2)

2. Biểu thức cầu khiến

Câu cầu khiến trong tiếng Nhật có rất nhiều dạng thức với mức độ biểu hiện lịch sự khác nhau từ thấp đến cao như:「Vて/Vなさい/Vてください/Vてくださいませんか/Vていただけませんか/Vていただけますでしょうか」(Làm... đi!/Hãy làm.../Hãy làm... đi/Xin hãy làm... cho tôi/Có thể làm.... cho tôi được không ạ?/Không biết liệu có thể xin anh/chị.... làm... cho tôi được không ạ?).

(2.1) 「急で送らないといけないいけない書類があるんだけど、今木村さんにお願いできますか。」(- Tôi đang cần gửi gấp tài liệu này, cậu Kimura giúp tôi nhé!)

「すみません。今日中に終わらせなければならない仕事がまだあるので、他の人に聞いていただけないでしょうか。」(- Em xin lỗi, nhưng em đang có việc phải hoàn thành gấp trong hôm nay, liệu sếp có thể nhờ người khác giúp em được không ?)

Với dạng thức kính ngữ như trên, phát ngôn từ chối bằng cấu trúc cầu khiến nhìn trên bề mặt có vẻ mang hàm lượng lịch sự cao, song theo lý thuyết lịch sự của Brown và Levinson, bản thân hành vi cầu khiến lại là hành vi xâm phạm thể diện âm tính của đối tượng giao tiếp, do xâm phạm vào “lãnh địa riêng và quyền tự do hành động của người nghe”, vì vậy, có thể nói rằng phương thức này chưa hẳn là một chiến lược lịch sự tốt.

Trong tiếng Nhật, trên cơ sở mức độ kính ngữ của lời nói thể hiện ở cách biến đổi động từ, người Nhật phân biệt ra các cấu trúc: mệnh lệnh - yêu cầu - đề nghị hay van xin. Trong các biểu thức cầu khiến, dùng mệnh lệnh để từ chối là phương thức TC có mức độ xâm phạm thể diện cao, ít được sử dụng. Theo khảo sát của chúng tôi, trong 670 lời từ chối CK của sinh viên Nhật Bản thu được từ các phiếu điều tra, không có lời từ chối nào dùng dạng thức mệnh lệnh (0%). Tuy nhiên, trên thực tế, TC bằng cách ra lệnh có thể được dùng trong quan hệ thân thiết, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như ví dụ sau:

(2.2)「お姉ちゃん、今月お金やばいから一万円貸してくれない。」  (- Chị ơi, tháng này em kẹt quá, cho em vay 1 vạn yên đi!)

「え~いつも、やめてよ。あたしもほしいものあってさ。」(- Hả? mày lúc nào cũng thế, thôi ngay đi! Tao cũng đang muốn mua mấy thứ đây này.)

Biểu thức cầu khiến cũng có thể là một lời đề nghị như ví dụ (2.45) dưới đây, người từ chối đưa ra đề nghị “Cậu hỏi người khác đi” khi thoái lời cầu khiến - đề nghị dạy cách sử dụng một phần mềm máy tính.

(2.3)「新しいソフトを買ったんだけど、使い方が分からなくて困っています。悪いけど、明日教えてくれませんか。」

「あ~、ごめん!明日はちょっと。他の人に当たってみて。

(- Mình mới mua phần mềm vi tính mới mà chưa biết cách sử dụng. Thật là ngại quá, nhưng mai cậu bảo mình được không?

- À, xin lỗi. Mai thì mình hơi... Cậu hỏi người khác đi!)

Biểu thức cầu khiến cũng có thể được nói như một lời cầu xin:

(2.4)「急で送らないといけないいけない書類があるんだけど、今お願いできますか。」(- Tôi đang cần gửi gấp tài liệu này, nhờ cậu được không?

「申し訳ありません。今別の仕事をしていて、それがまだ終わりそうにないので、別の方に頼んでいただいてもよろしいですか。」(- Em xin lỗi anh ạ. Bây giờ em đang làm dở việc, mà việc đó có lẽ khó có thể xong ngay được, nên em xin anh nhờ người nào khác có được không ạ?)

Nếu như trong tiếng Nhật cấu trúc mệnh lệnh có hình thức đơn giản, chỉ là cách biến đổi đuôi của động từ thì trong tiếng Việt, mệnh lệnh có các hình thức biểu đạt phong phú: có cách biểu đạt bằng tiểu từ tình thái “nhé/đi/đã”, hoặc biểu đạt bằng hư từ chỉ mệnh lệnh như: “hãy/cứ/để/phải”...

(2.5) - Mẹ cho con đi chơi nhé!

- Học bài xong đi đã!

(2.6)- Ô hay, chị Hảo chứ có phải ai đâu. Đó là chị ruột của em và là vợ của anh cô bé ạ. Tuỳ người mà ghen thôi chứ.

Đã có em thì thôi chị ấy! Em không thích dùng chung.

(“21 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”, tr.370)

Cấu trúc cầu xin trong tiếng Việt có hình thức dùng động từ nguyên cấp “xin”, “van”, “lạy”, “thông cảm” thể hiện thái độ khiêm tốn, nhún nhường, e sợ, được sử dụng rất phổ biến. Hành vi từ chối bằng cấu trúc cầu xin được sử dụng nhiều trong tiếng Việt, nhất là xin đối tượng giao tiếp thông cảm cho hoàn cảnh của mình, từ đó chấp nhận lời từ chối.

(2.7) - Sao mặt mày buồn như bị ong đánh vậy. Nó đi lấy vợ rồi thì mày đi lấy chồng. Hạnh phúc là hên xui, may rủi chi mà buồn. Tao đã biết ngay từ lần gặp nó đầu tiên. Thằng cha bẻm mép, khó tin lắm. May mà...

Thôi, em xin anh, làm ơn để cho em yên chút xíu đi.

(Trăng quê, “Chuyện tình bên dòng kinh” tr.242)

3. Biểu thức nghi vấn (có giá trị cầu khiến, phủ định, hỏi lại)

Đối với người Nhật, hình thức TC gián tiếp sử dụng cấu trúc nghi vấn được sử dụng khá nhiều, đặc biệt là cấu trúc nghi vấn có giá trị cầu khiến. Đây được xem là mô hình TC có mức độ lịch sự cao trong tiếng Nhật. Mô hình TCGT với biểu thức nghi vấn/cầu khiến sau rất phổ biến:

Động từ + いただけませんか/いただけないでしょうか。

(Có thể làm…giúp được không?)

Ví dụ:

(3.1) 「ちょっといいですか。」

「はい」

「急で送らないといけない書類があるんだけど、今お願いできますか。」

「大変申し訳ありませんが、私自身やるべき作業があるので、他の人に聞いていただけませんか。

( - Mình nhờ cậu một chút được không?

- Dạ.

- Mình có cái tài liệu này cần gửi gấp, nhờ cậu bây giờ nhé!

- Em rất xin lỗi nhưng em cũng đang có việc phải làm, anh có thể nhờ người khác giúp em được không ạ?)

Bên cạnh việc sử dụng cấu trúc nghi vấn có giá trị cầu khiến để TC, người Nhật cũng dùng cấu trúc nghi vấn mang hàm ý bác bỏ, phủ định để thực hiện HVTC. Tuy nhiên, cách nói này ít nhiều mang lại sự khó chịu cho người nghe, do vậy, không được sử dụng thường xuyên.

(3.2)「君から頼んでみてくれよ。」

「私がどうしてそんなことしなければならないの?」

「友達だと思ってるんだ。友達にしときたいから、君は口説かないんだよ。」

「それがお友達ってものなの?」と、女はつい誘われて子供っぽく言ったが、後はまた吐き出すように、

「えらいと思うわ。よくそんなとこが私に頼めになれますわ。」

(- Không, không? Tôi nhờ cô làm việc đó cho tôi kia.

Tại sao ông tin rằng tôi sẽ nhận làm việc đó?

- Vì theo tôi, cô là một người bạn và tôi muốn chúng ta là bè bạn của nhau. Nếu không, tôi đã xử sự khác.

- Vì có tình bạn tốt đẹp nên ông mới xử sự như vậy sao? - Cô nói với vẻ gay gắt tự nhiên và dễ thương như một đứa trẻ.

Nhưng chỉ lát sau cô lại giận dữ nói:

Sao ông lại nghĩ đến chuyện nhờ tôi một việc như thế được nhỉ! Hừ! Hay thật! Hay thật đấy.)

(3.3) 「だから呼んでくれよ。」(- Vậy, cô tìm cho tôi một người chứ?)

今?」(Ngay bây giờ?)

「うん。」(- Đúng thế.)

「驚きますわ。こんな真昼間に何もおっしゃれないでしょう?」(Nhưng giữa ban ngày ban mặt, ông có thể kể gì với một người đàn bà?)

「屑が残るといやだよ。」(- Chờ đến tối thì có khi chỉ còn một cô gái chẳng ai thèm.)

(“Xứ tuyết”, Tuyển tập Kawabata, NXB.Hội nhà văn, tr.242)

Trong đoạn thoại giữa Shimura và Komako, người đàn ông tiếp tục yêu cầu cô gái tìm cho một cô geisha khác để trò chuyện. Cảm thấy khó chịu vì anh ta không gọi chính mình, Komako từ chối lời yêu cầu này. Cấu trúc nghi vấn được sử dụng tới hai lần để thực hiện lời TCGT: lần thứ nhất là câu hỏi mang hàm ý chỉ ra sự phi lý của lời cầu khiến: giữa buổi trưa mà gọi một geisha đến để trò chuyện thì thật không thích hợp: “Ngay bây giờ?”; lần thứ hai, câu hỏi được cụ thể hoá “Nhưng giữa ban ngày ban mặt, ông có thể kể gì với một người đàn bà?”. Những cấu trúc nghi vấn mang hàm ý phủ định hay hoài nghi như vậy được sử dụng khá phổ biến trong tiếng Nhật. Theo kết quả điều tra bảng hỏi của chúng tôi, khoảng 1/3 lời từ chối gián tiếp được biểu hiện dưới dạng câu hỏi, chiếm tỉ lệ cao nhất là dạng câu hỏi mang hàm ý cầu khiến. Còn các câu hỏi mang giá trị phủ định, bác bỏ, cảm thán được dùng trong quan hệ thân thiết và không mang tính xã giao cao.

Tương tự như tiếng Nhật, từ chối gián tiếp bằng cấu trúc nghi vấn trong tiếng Việt cũng được sử dụng nhiều. Tuy nhiên, khác với người Nhật, người Việt ít sử dụng cấu trúc nghi vấn mang giá trị cầu khiến. Thay vì nói 「ご自分でやった方がいいじゃないですか。/他の人に当たってみてくださいませんか。」(“Anh không thể tự làm được sao?/Anh  không thể nhờ người khác hộ tôi được ư?”), người Việt thường nói thẳng: “Thôi, anh tự làm đi!/Thôi, anh nhờ người khác vậy”. Ngược lại, cấu trúc nghi vấn có giá trị cảm thán được người Việt ưa dùng vì “điều này có thể xuất phát từ khả năng khái quát của cấu trúc: bộc lộ được cảm xúc của người nói mà không cần trực tiếp nói lời TC, không va chạm trực tiếp ngôn từ với đối tác, tránh đe doạ thể diện của người nghe, và độ bóng gió của hàm ý TC biểu hiện cách ứng xử ngôn ngữ tinh tế của chủ thể phát ngôn”. Các tác tử nghi vấn, cảm thán “gì/đâu/sao/được/chăng/ư” thường đi kèm với cấu trúc này.

(3.4) - Còn tiền không, cho tao vay tạm 1-2 triệu, đang bí quá.

Trời ơi, mày làm gì mà tiêu kinh thế?

(3.5) - Anh về đi, đừng đến tìm mẹ con tôi nữa.

- Em không thể tha thứ cho anh một lần sao?

(Còn nữa)

Ths. Ngô Hương Lan, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á

MỘT SỐ BIỂU THỨC TỪ CHỐI ĐIỂN HÌNH TRONG TIẾNG NHẬT (Phần 1)

Phương thức từ chối gián tiếp (TCGT) phi quy ước, cũng giống như phương thức TCGT theo quy ước, trước hết là hình thức từ chối không hiển ngôn, hay nói cách khác, mục đích TC được ẩn sâu dưới nhiều lớp từ vựng, ngữ nghĩa, được “mã hoá” và  người nghe phải nắm bắt chúng dựa trên “căn cứ vào ngữ cảnh, tình huống, bằng mối liên hệ giữa ngôn ngữ và thực tại, bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sống” (Trần Chi Mai, 2004). Khi tiến hành khảo sát các hành vi TCGT phi quy ước trong tiếng Nhật, mặc dù các hình thức biểu đạt là không giới hạn, nhưng chúng tôi nhận thấy có một số biểu thức TC đặc thù được sử dụng như sau:

1. Biểu thức lý do (chủ quan, khách quan)

PHÂN LOẠI TRỢ TỪ TRONG TIẾNG NHẬT

Trong tiếng Nhật, trợ từ giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Có tới hơn 80 loại trợ từ với hàng trăm ý nghĩa khác nhau. Dựa vào tiêu chí hình thức (vị trí của trợ từ trong câu) và tiêu chí chức năng (khả năng kết hợp của chúng với những từ loại nào) mà trợ từ có thể được phân chia làm nhiều nhóm. Có nhóm trợ từ thuần túy ngữ pháp như “trợ từ cách” (ga, he, de, to...). Có nhóm trợ từ chuyên dùng để biến đổi thể thức của từ (biến động từ thành danh từ - gọi là danh hóa động từ như no, koto...), có nhóm trợ từ liệt kê to, te, ya... tương đương với các liên từ “và”, “với” trong tiếng Việt. Lại có nhóm biểu thị ngữ dụng như “trợ từ quan hệ” wa, mo, koso... Ngoài ra là các nhóm trợ từ biểu thị ngữ khí như “trợ từ trung gian” sa, ne, na..., “trợ từ kết thúc” ka, wa, zo... Loại này có khi chỉ là các từ cảm thán không thể dịch ra tiếng nước ngoài. Với một diện hoạt động rộng và phong phú như vậy, có thể nói phạm vi “trợ từ tiếng Nhật” rộng hơn bất cứ quan niệm nào về các loại từ bổ trợ như: “hư từ ngữ pháp”, “hư từ tình thái” trong tiếng Việt, “giới từ” của tiếng Anh, “tiếp vĩ ngữ”, “liên từ”, “thán từ”, “phó từ” của tiếng Nga, tiếng Pháp... Tóm lại. “trợ từ tiếng Nhật” bao gồm tất cả các loại này, gọi chung chúng bằng cái tên “trợ từ”.