MỘT SỐ BIỂU THỨC TỪ CHỐI GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG NHẬT (Phần 3)

4. Biểu thức ngăn cản, tạo sự phủ định, bác bỏ

Sử dụng cấu trúc trần thuật tạo lời bác bỏ, lời phủ định hoặc khẳng định đối lập với nội dung cầu khiến, mang hàm ý tác động nhằm dừng ý định cầu khiến của đối tượng giao tiếp để thực hiện hành vi từ chối (HVTC) là cách thức phổ biến ở mọi ngôn ngữ. Trong tiếng Nhật, lời từ chối này có tỉ lệ sử dụng không cao do tính “đe doạ thể diện” cao, khá gần với phương thức từ chối trực tiếp.

Trong ví dụ sau (4.1), Shimura - người khách trọ nhờ Komako gọi một kỹ nữ đến phục vụ anh ta:“Gọi cho tôi một geisha!”, đáp lại lời yêu cầu của Shimura, Komako nêu lên hiện trạng ngược với nội dung cầu khiến, rằng “Ở đây không có loại phụ nữ ấy” để người khách phải tự rút lui lời đề nghị không thích hợp.

(4.1) 「世話するって?」(- Gọi một geisha? Cho ông?)

「分かってるじゃないか。」(- Vâng...Cô hiểu rất rõ tôi muốn nói gì.)

ここにはそんな人ありませんわよ。」(- .... Ở đây không có loại phụ nữ ấy.)

(“Xứ tuyết”, Tuyển tập Kawabata, tr.236)

Ví dụ (4.2), từ chối lời rủ đi dạo đến nhà ga trong đêm đông buốt giá, Shimura đáp “Em điên à? Từ đây tới đó gần hai cây số chứ ít đâu!”. Đưa ta nhận định về quãng đường xa tới 2 cây số, Shimura ngầm bảo với Komako rằng việc rủ anh đi dạo một quãng đường như vậy là không thích hợp, từ đó bác bỏ lời rủ của Komako.

(4.2) 道は凍っていた。村は寒気の底へ寝静まっていた。駒子は裾をからげて帯に挟んだ。月はまるで青い氷のなかの刃のように登み出ていた。(Mặt đường rắn đanh dưới lớp băng giá và ngôi làng đã ngủ dưới bầu trời lạnh. Komako kéo chiếc áo kimono dài lượt thượt lên giắt vào đai lưng. Mảnh trăng màu xanh ánh thép như một lưỡi dao gắn vào một tảng băng.)

「駅まで行くのよ。」(- Chúng ta đi đến tận ga nhé, - Komako hào hứng đề nghị.)

「気ちがい。往復一里もある。」(- Em điên à? Từ đây tới đó gần hai cây số chứ ít đâu!)

「あんたもう東京へ帰るんでしょう。駅を見に行くの。」(- Nhưng anh sắp về Tokyo rồi, đúng không? - Cô khăng khăng. - Chúng ta cũng nên ra nhìn qua nhà ga một chút.)

島村は肩から腿まで寒さに痺れた。(Họ bước đi và Shimamura thấy rét từ đầu đến chân.)

(4.3) Nó nghiêng đầu vào tai ông lão nói nhỏ. Rồi cả hai cùng cười. Tiếng cười của ông lão nghe kỳ kỳ, ghê ghê, lớp da trên lưng run run.

- Đậu ơi, ông biết nó buồn lắm mà. Con phải kiếm cho nó một người bạn.

Nhưng nó không chịu có bạn, nó cứ cắn nhau. Ông biết rồi đó.

(Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Nguyễn Ngọc Thuần, NXB Trẻ, tr.83).

(4.4) - Mày có tiền không cho tao vay tạm 1-2 triệu, đang bí quá.

Tao cũng làm gì có tiền.

Ví dụ (4.3) đáp lại nội dung cầu khiến “Con phải kiếm cho nó một người bạn” là câu trần thuật phủ định nội dung cầu khiến “Nhưng nó không chịu có bạn, nó cứ cắn nhau. Ông biết rồi đó”. Ví dụ (4.4), lời phủ định “Tao cũng làm gì có tiền”nhằm bác bỏ nội dung cầu khiến “vay tiền”. Các dạng thức phủ định trong tiếng Việt như: làm sao... được/ không.... được/ đâu có.../ làm gì có... thường được sử dụng trong kiểu câu này.

5. Biểu thức phương án thay thế

Biểu thức từ chối “đưa ra phương án thay thế” thể hiện sự tích cực duy trì quan hệ với đối tượng giao tiếp. Mặc dù thực hiện HVTC, song người nói cố gắng đưa ra giải pháp thay thế, nhằm đáp ứng phần nào đó nguyện vọng, lời đề nghị của đối tượng giao tiếp. Biểu thức phương án thay thế được sử dụng nhiều trong lời TC trong tiếng Nhật và tiếng Việt.

(5.1)「あのう、ちょっと、お願いがあるけど、いいですか。」(- À, này, mình nhờ một chút được không?)

「うん、何? 」(- Ừ, gì thế?)

「実はね、この間、新しいソフトを買ったんだけど、使い方わからなくて困っています。悪いけど、明日教えてくれませんか。」(- Thực ra, mình vừa mua một phần mềm mới, nhưng đang khổ vì chưa biết cách sử dụng. Thật ngại quá, mai cậu có thể bảo mình một chút được không?)

「明日、10時から友達と約束してるから。その前後、もしくは別日でもいい?」(- Mai á, từ 10 giờ mình có hẹn với bạn rồi. Trước hoặc sau đó, hoặc là hôm khác được không?)

「そうですか。分かりました。」(- Thế à? Thôi vậy.)

Trong tiếng Việt, biểu thức “phương án thay thế” cũng được sử dụng tương tự như trong tiếng Nhật, với mục đích đem lại giải pháp đền bù cho người nghe, như một cách tích cực để tiếp tục giữ gìn quan hệ với đối tượng giao tiếp.

(5.2) - Này, mình nhờ cậu một tí được không?

- Gì vậy?

- À, ờ... Mình chót tiêu hết tiền tháng này vì việc gia đình rồi. Mà mai mình lại phải đóng tiền nhà, tiền điện. Cậu có thể cho mình mượn độ 1-2 triệu không? Tháng sau mình trả luôn.

Trời ơi, làm gì mà tiêu kinh thế. Mình lấy đâu ra ngần ấy tiền. Để mình hỏi chị mình xem thế nào nhé!

- Ừ, giúp mình nhé! Cảm ơn cậu.

 

(Còn nữa).

Ths.Ngô Hương Lan, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á